Hiển thị các bài đăng có nhãn luatgiaothong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luatgiaothong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2010

Từ 20/5, áp dụng mức phạt vi phạm giao thông nặng hơn

(Chinhphu.vn) - Tăng mức tiền phạt, tăng thêm quyền xử phạt cho các cơ quan chức năng và bổ sung thêm một số hành vi bị coi là vi phạm, áp dụng thí điểm chế tài mạnh hơn đối với một số vi phạm trong khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt... là những nội dung đổi mới của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành.

Nghị định mới sẽ góp phần ổn định hơn nữa trật tự an toàn giao thông đường bộ

Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thay thế Nghị định số 146/2007/NĐ-CP và có hiệu lực kể từ ngày 20/5/2010. Về cơ bản, Nghị định mới quy định chế tài mạnh hơn đối với các vi phạm nhằm tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường việc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.

Tăng mạnh mức phạt vi phạm

Hành vi người điều khiển ô tô không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông ( vượt đèn đỏ chẳng hạn), bị phạt từ 600.000 – 800.000 đồng, trong khi mức phạt trước đây chỉ từ 200.000 – 400.000 đồng. Cũng với vi phạm này, mức phạt đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy giữ nguyên so với trước ( từ 100.000 – 200.000 đồng ).

Người đi bộ vi phạm (không đi đúng phần đường quy định...) cũng bị tăng tiền xử phạt gấp 1,5 lần, từ 40.000 đồng lên 60.000 đồng.

Theo quy định trước, người điều khiển xe mô tô không mang theo giấy đăng ký xe hoặc giấy phép lái xe hay không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực bị phạt từ 40.000-60.000 đồng.

Nay, người điều khiển mô tô bị phạt 60.000-80.000 đồng nếu không mang theo giấy đăng ký xe hoặc giấy phép lái xe. Bị phạt nặng hơn, từ 80.000 – 120.000 đồng, nếu không có hoặc không mang giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực.

Một trong những điểm mới của Nghị định này là việc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy định khi tham gia giao thông cũng bị phạt (100.000 – 200.000 đồng), tuy nhiên với trường hợp trẻ em dưới 6 tuổi không đội mũ bảo hiểm hay đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách thì không phạt.

Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ không cài quai đúng cách cũng bị phạt, từ 100.000 – 200.000 đồng.

Đối với người điều khiển xe mô tô bị phạt đến 200.000 đồng nếu chở thêm 2 người, trừ trường hợp chở người bệnh cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật. Mức phạt này đã tăng gấp đôi so với quy định trước đây và độ tuổi trẻ em được chở kèm trước kia là từ 7 tuổi trở xuống, nay là 14 tuổi trở xuống.

Chiếm dụng đường bộ (họp chợ, mua, bán hàng trên đường) bị phạt tăng gấp 10 lần, từ 50.000 đồng lên 500.000 đồng.

Đối với người điều khiển xe ô tô mà chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước; quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường, bấm còi, rú ga liên tục hoặc bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong khu đô thị ... sẽ bị phạt tới 500 ngàn đồng, cao hơn 2,5 lần so với mức phạt cũ là 200 ngàn đồng.

Nghị định cũng quy định mức phạt tới 1 triệu đồng đối với các hành vi tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe máy quá tốc độ quy định hoặc đua xe trái phép.

Thí điểm chế tài mạnh hơn đối với đô thị loại đặc biệt

So với trước, Nghị định có thêm Mục 7, Chương II với nội dung quy định “Áp dụng thí điểm đối với một số vi phạm trong khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt”.

Theo Bộ Giao thông vận tải, Mục này viện dẫn một số hành vi vi phạm phổ biến mà người tham gia giao thông thường mắc phải và có nguy cơ cơ gây mất an toàn giao thông, ùn tắc giao thông nghiêm trọng ở khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt (như không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe không đúng quy định, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, sử dụng rượu, bia quá nồng độ cồn cho phép…) để quy định áp dụng thí điểm mức phạt riêng cao hơn so với mức quy định chung từ 40 – 200%.

Đô thị loại đặc biệt là TP trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc, có quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên… Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt.

Chẳng hạn, người điều khiển ô tô không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông, bị phạt từ 600.000 – 1 triệu đồng (mức chung là 600 ngàn – 1 triệu đ), đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định bị phạt 1 – 1,4 triệu (mức chung là 600 – 800 ngàn đ)…

Đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông, điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông bị phạt từ 300 – 500 ngàn đồng (mức chung là 100 – 200 ngàn đồng).

Theo Nghị định này, các quy định tại Mục 7 nêu trên được thực hiện thí điểm trong thời gian 36 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực.

UBND các thành phố là đô thị loại đặc biệt quy định cụ thể phạm vi khu vực nội thành để thực hiện việc thí điểm. Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, UBND các thành phố là đô thị loại đặc biệt báo cáo Thủ tướng kết quả thực hiện thí điểm; kết thúc thời hạn thí điểm, tổ chức tổng kết đánh giá việc thực hiện thí điểm báo cáo báo Chính phủ đề xuất chủ trương thực hiện tiếp theo.

Bắt, trả khách giữa đường, chủ xe có thể bị phạt tới 500 ngàn đồng

Xe khách sang nhượng khách bị phạt gấp 4 lần mức cũ

Trước đây, phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng trên mỗi hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện (trừ xe buýt) đối với hành vi chở quá từ 2 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 3 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 4 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 5 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi, nay mức phạt tăng lên từ 200-300 ngàn đồng.

Hành vi sang nhượng khách dọc đường cho xe khác mà không được khách đồng ý... trước đây chỉ bị phạt đến 500.000 đồng, theo quy định mới, hành vi này bị phạt tới 2 triệu đồng. tức là gấp 4 lần mức phạt cũ.

So với trước đây, tại Nghị định mới bổ sung thêm 2 hình thức xử phạt là: “Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra” và “Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất phương tiện”.

Download tại đây

Mai Hương

(Nguồn: Nghị định số 34/2010/NĐ-CP)

Theo BaodientuCP

read more...

Phân tích câu hỏi 396 - Luật giao thông đường bộ

Phân tích câu hỏi 396

trong sách 405 câu hỏi dùng cho sát hạch cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

(Do nhà xuất bản Giao thông vận tải phát hành gần đây nhất là tháng 12/2009)

Theo kết quả thống kê và phân tích câu 396 của người làm trắc nghiệm trên phần mềm trắc nghiệm GPLX trực tuyến thì tỷ lệ làm đúng là 70%, tỷ lệ làm sai là 30%. Như vậy các bạn có thể thấy tỷ lệ làm sai ở câu này là khá cao. Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ làm sai cao ở câu này có thể do chưa rõ về khái niệm về Dừng xeĐỗ xe .

Hình câu hỏi 396

Như trên hình câu hỏi 396 thì các bạn có thể nhận thấy Ôtô ở vị trí B và C đang ở trạng thái dừng xe (vì câu hỏi hỏi là hỏi về dừng xe, ngoài ra đèn xi nhan vẫn bật sáng), trong khi biển báo (131a) là Cấm đỗ xe. Do đó Ôtô dừng xe ở vị trí B và C không phạm luật, đúng qui tắc giao thông (Đáp án 3: Vị trí B và C là đúng).

Các bạn cũng lưu ý trên 1 số tài liệu hướng dẫn lái xe trên mạng là tài liệu tập huấn lần đầu khoảng tháng 7/2009 nên nhiều hình ảnh và số liệu chưa chính xác, bạn nên tham khảo trên sách của nhà xuất bản giao thông vận tải xuất bản gần nhất (12/2009) hoặc các tài liệu khác tương đương để đảm bảo tính chính xác của tài liệu. Để việc tra cứu và học tập được thuận tiện hơn, chúng tôi đã cập nhật và đưa thêm các tính năng mới như phân tích đáp án, tra cứu biển báo trực tiếp trong phần mềm trắc nghiệm GPLX trực tuyến nhằm giúp các bạn ôn luyện kiến thức tốt nhất, để việc học được hiệu quả các bạn vẫn nên tham khảo thêm sách học luật mới nhất từ một nguồn tin cậy. Việc học kết hợp sẽ giúp bạn đạt kết quả tốt nhất khi đi thi lý thuyết lái xe.

Lưu ý 2 biển báo sau:

Biển số 131a "Cấm đỗ xe": có hiệu lực cấm đỗ các loại xe cơ giới ở phía đường có đặt biển bất kể ngày nào. Biển số 130 "Cấm dừng xe và đỗ xe": Biển có hiệu lực cấm các loại xe cơ giới dừng và đỗ lại ở phía đường cóa đặt biển trừ các xe được ưu tiên theo Luật Giao thông đường bô. (Dừng xe là đứng yên không được tắt máy và người lái xekhông được rời tay lái).

Hiệu lực cấm của biển bắt đầu từ chỗ đặt bỉen đến ngã ba, ngã tư tiếp theo hoặc đến vị trí quy định nơi đỗ xe, dừng xe (hoặc đến chỗ đặt biển số 135 "Hết tất cả các lệnh cấm" nếu đồng thời có nhiều biển cấm khác hết tác dụng).



Trong trường hợp chỉ cấm dừng, đỗ xe vào giờ nhất định thì dùng biển phụ 508. Ngoài thời gian đóthì không được dừng, đỗ.

Để hiểu rõ hơn về 2 khái niệm này, chúng tôi xin trích dẫn điều 18 và 19 trong Luật giao thông đường bộ :

Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

  1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.

  2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

  3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ.



Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau đây:

  1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

  2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

Chúc các bạn ôn luyện thành công, sớm có bằng lái và luôn an toàn trên đường

Trân trọng!

Bài viết này được trả lời thư bạn đọc ngày 15/4/2010 như sau để các bạn tiện tham khảo :

Duc Thang Nguyen

Hi Admin!



Mình có chút ý kiến nhỏ thế này, sau khi tham gia test 405 câu thi bằng lái xe ôtô. Phải nói là chương trình rất hay, thú vị và đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng.



Duy có câu số 396, mình thấy có sai lệch về vị trí đáp án so với nguyên bản (đáp án 2 và 3 bị đổi cho nhau), do đó dẫn đến đáp án sai. Cụ thể, đáp án đúng là "Vị trí B", nhưng ở đây lại là "Vị trí B và C". Mình đoán có lẽ do thứ tự đáp án bị hoán đổi, còn về đáp án đúng vẫn là đáp án thứ 3.



Vậy rất mong admin xem xét và cho phản hồi sớm nhé!



Chân thành cảm ơn!



(thangnd)

Chào bạn Đức Thắng,



Sau khi chúng tôi kiểm tra câu hỏi 396 (Theo sách: "405 câu hỏi dùng cho sách hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ" của Bộ giao thông vận tải do Nhà xuất bản Giao thông vận tải xuất bản tháng 12/2009) thì vị trí và đáp án các câu của chúng tôi là hoàn toàn chính xác.


Không rõ bạn tham khảo kết quả đáp án từ nguồn tài liệu nào? Bạn có thể mua cuốn sách chúng tôi nêu ở trên để tham khảo thêm.


Chúc bạn thành công, nắm vững luật và sớm nhận được bằng lái.


Trân trọng,
Admin G3T.



2010/4/16 Duc Thang Nguyen

Hi all!



Vâng, trong cuốn sách 405 câu mà bộ phận hỗ trợ đã nêu, đáp án đúng là đáp án 3. Nhưng đáp án 3 là "Vị trí B", còn trong phần mềm trắc nghiệm, đáp án 3 là "Vị trí B và C". Ở đây chỉ là câu hỏi bị sai trong phần đáp án. Cụ thể ở đề số 9, câu hỏi 26. So với sách, đáp án 2 và 3 (từ trên xuống) đổi cho nhau.



Rất mong.



(thangnd)



2010/4/16 Giao Thong Tuoi Teen <admin@giaothongtuoiteen.com>

Chào bạn Đức Thắng,



Theo cuốn sách 405 câu của Bộ giao thông vận tải do Nhà xuất bản Giao thông vận tải phát hành tháng 12/2009, câu hỏi 396 như sau (chúng tôi xin trích nguyên văn):


Người lái xe dừng xe tại vị trí nào là đúng quy tắc giao thông?


1. Vị trí A và B.
2. Vị trí B.
3. Vị trí B và C.
4. Cả 3 vị trí A, B, C.


Và đáp án đúng là đáp án 3: Vị trí B và C


Không rõ bạn đã tham khảo các câu hỏi từ nguồn tài liệu nào, theo chúng tôi biết thì một số phần mềm và tài liệu tập huấn của các Trung tâm sát hạch lái xe giai đoạn đầu khi mới tập huấn áp dụng luật chưa được cập nhật chính xác lắm (Vì vẫn ở trong giai đoạn xây dựng).


Ở câu hỏi 396 này, theo thống kê và phân tích thì tỷ lệ làm đúng là 70%, làm sai là 30%, như vậy cho thấy kết quả làm sai là khá cao, nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ làm sai cao ở câu này có thể do chưa rõ về khái niệm về Dừng xeĐỗ xe.


Và theo như phân tích của chúng tôi thì Lựa chọn "Vị trí B và C" là chính xác vì theo như hình vẽ, bạn có thể nhận thấy Ôtô ở vị trí B và C đang ở trạng thái dừng xe (vì câu hỏi hỏi là hỏi về dừng xe, ngoài ra đèn xi nhan vẫn bật sáng), trong khi biển báo (131a) là Cấm đỗ xe. Do đó Ôtô dừng xe ở vị trí B và C không phạm luật, đúng qui tắc giao thông (Đáp án 3: Vị trí B và C là đúng). Bạn vào link sau xem phân tích chi tiết hơn ở câu hỏi này nhé:






Chúng tôi rất mừng vì có những người như bạn đã đóng góp ý kiến xây dựng để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện phần mềm. Nếu trong quá trình làm trắc nghiệm, nếu bạn phát hiện thêm được những lỗi nào hãy gửi góp ý cho chúng tôi.


Trong giai đoạn tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nâng cấp cho phần Sa hình để có thể dễ dàng hơn trong việc tra cứu biển báo, để người làm dễ nắm bắt hơn ý nghĩa các biển báo trong các sa hình.


Chúc bạn gặt hái nhiều thành công và thi tốt.


Trân trọng,
Admin G3T


2010/4/16 Duc Thang Nguyen



Xin chân thành cảm ơn thật nhiều!




Đúng là mình đã có sơ sót khi quan sát hình và nguồn tài liệu đúng là chưa chuẩn như Admin G3T phân tích.



Mình sẽ cẩn thận hơn và cùng chia sẻ với cộng đồng.



Mong Giao Thong Tuoi Teen ngày càng vững mạnh và có nhiều sản phẩm hữu ích.



Chúc mọi sự tốt lành và may mắn!



(thangnd)

Link liên quan:

OF

OS

Bike

read more...

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2010

Điểm sửa đổi trong Luật Giao thông đường bộ mới so với Luật cũ!

Ngày 13/11/2008, quốc hội đã thông qua luật Giao thông đường bộ thay thế luật Giao thông đường bộ thông qua ngày 29/06/2001. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/07/2009 và sẽ có một số văn bản dưới luật khác được ban hành để thay thế các văn bản hiện nay.

Nội dung luật Giao thông đường bộ mới có thể tải về tại địa chỉ: http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/L23QH.DOC?id=83559

So sánh với luật cũ (tải về tại địa chỉ: http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/L26QH.rtf?id=9730) ở phần nội dung có liên quan đến ô tô và người điều khiển ô tô, có một số thay đổi như sau:

1. Quy định chặt hơn về Các hành vi bị nghiêm cấm (điều 8):
8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.


Trong luật cũ:
8. Người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

2. Giải thích rõ hơn về các khái niệm "dừng xe" và "đỗ xe" (điều 18):
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

Đồng thời làm rõ hơn quy định khi dừng xe:
e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

Trong luật cũ:
e) Xe cơ giới khi dừng, người lái xe không được rời khỏi vị trí lái;
3. Quy định chặt chẽ hơn về dừng xe, đỗ xe trong đô thị (điều 19):
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.
2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

Trong luật cũ:
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét;
2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.


4. Có thêm quy định về Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ (điều 20).
1. Hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc chắn, không để rơi vãi dọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không cản trở việc điều khiển xe.
2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể việc xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ.


5. Sửa đổi bổ sung một số quy định về giao thông trên đường cao tốc (điều 26)
c) Không được cho xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp và phần lề đường;

Trong luật cũ (điều 24):
c) Không được cho xe chạy ở phần lề đường;
d) Không được quay đầu xe, lùi xe; (không có trong luật mới).

6. Bỏ một số quy định về giao thông trong hầm đường bộ (điều 26)
Trong luật cũ (điều 25):
c) Không được quay đầu xe, lùi xe; (không có trong luật mới).

7. Sửa đổi một số quy định về niên hạn phương tiện cơ giới (điều 53)
4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới.

Trong luật cũ (điều 48):
4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với các loại xe ô tô kinh doanh vận tải.

8. Bổ sung quy định về các loại giấy tờ phải mang theo khi điều khiển phương tiện (điều 58).
2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:
a) Đăng ký xe;
b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;
c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;
d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

2. Giải thích rõ hơn về các khái niệm "dừng xe" và "đỗ xe" (điều 18):
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

Đồng thời làm rõ hơn quy định khi dừng xe:
e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

Trong luật cũ:
e) Xe cơ giới khi dừng, người lái xe không được rời khỏi vị trí lái;

Thông tư ngày 24/7 của Bộ GTVT:Trên đường bộ trong khu vực đông dân cư, xe chở người đến 30 chỗ, xe có trọng tải dưới 3,5 tấn được chạy tối đa 50km/h. Xe chở người trên 30 chỗ; xe tải có trọng tải từ 3,5 tấn trở lên; xe chuyên dùng; xe mô tô và xe gắn máy được chạy tối đa 40km/h.

Ở ngoài khu vực đông dân cư, xe chở người đến 30 chỗ ngồi (trừ xe buýt); xe tải có trọng tải dưới 3,5 tấn được chạy tối đa 80km/h; xe chở người trên 30 chỗ ngồi; xe tải có trọng tải từ 3,5 tấn trở lên được chạy tối đa 70km/h.


Xe buýt; xe chuyên dùng; xe mô tô được chạy tối đa 60km/h; ở loại đường này, xe gắn máy cũng chỉ được phép chạy tối đa 40km/h. "

Trong (...) 50, Ngoài (...) 80


OS
read more...

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Phòng tránh TNGT - Sơ cấp cứu tai nạn giao thông

I. TÓM TẮT CÁC BƯỚC SƠ CẤP CỨU TAI NẠN GIAO THÔNG


Các bước sơ cấp cứu tai nạn giao thông chỉ rõ từng bước các hành động cần tiến hành của người cứu hộ.

Những điều cần làm:

§ Bảo vệ nạn nhân và gọi cấp cứu.

§ Xác định tổn thương và tiến hành sơ cấp cứu.

§ Vận chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế (nếu cần thiết).

Ngừng tim trong tai nạn giao thông là hậu quả chấn thương. Do vậy, không có máu chảy qua tim và mạch. Trong trường hợp này, việc ép tim ngoài lồng ngực là không cần thiết bởi vì sẽ không có hiệu quả. Kỹ năng này nằm ngoài chương trình Sơ cấp cứu tai nạn giao thông.

II. CÁC KỸ NĂNG SƠ CẤP CỨU CƠ BẢN TAI NẠN GIAO THÔNG

1. Bảo vệ nạn nhân và gọi cấp cứu

Mọi tình huống tai nạn đều có thể tạo ra những nguy hiểm mới. Khi thiếu sự can thiệp của người cứu hộ thì tính mạng của nạn nhân và những người xung quanh có thể bị đe dọa. Mọi nguồn nguy hiểm phải được tách rời hay loại bỏ.

Nếu không thể loại bỏ nguồn nguy hiểm đó ngay thì nạn nhân cần được di chuyển khẩn cấp khỏi nguồn nguy hiểm.

Bước đầu tiên của quá trình sơ cấp cứu là người cứu hộ gọi cấp cứu ngay sau khi quan sát và phân tích tình huống, điều đó cho phép thực hiện sơ cứu khẩn cấp phù hợp hoặc là có phương tiện để vận chuyển nạn nhân đến bệnh viện gần nhất.

Những điều cần làm :

§ Quan sát hiện trường và thu thập thông tin.

§ Quan sát nạn nhân, gọi 115 hoặc cơ sở y tế gần nhất.

§ Di chuyển nạn nhân ra khỏi nơi nguy hiểm (nếu cần thiết)

2. Nạn nhân còn tỉnh

a. Cầm máu

Khi nạn nhân bị chảy máu quá nhiều, nếu không can thiệp kịp thời thì tính mạng nạn nhân sẽ bị đe dọa. Chúng ta phải tiến hành cầm máu ngay lập tức bằng cách ấn tay trực tiếp vào chỗ có máu chảy, nếu có thể thì nên đi găng tay.

Nếu máu vẫn tiếp tục chảy mặc dù đã cầm máu trực tiếp hoặc là không thể tiến hành ấn tay trực tiếp vào vết thương vì vết thương có kèm dị vật, cần tiến hành cầm máu bằng cách ấn điểm cầm máu.

Trong trường hợp người cứu hộ chỉ có một mình để sơ cấp cứu, hoặc trong trường hợp có nhiều nạn nhân cần được sơ cấp cứu, và việc tiến hành ấn điểm cầm máu không hiệu quả, thì việc ấn điểm cầm máu được thay bằng băng garô. Băng garô thực hiện với một miếng băng vải dài rộng ở cánh tay và đùi nạn nhân.

Những điều cần làm :

§ Ấn trực tiếp vào vết thương bằng gạc, vải sạch (tránh tiếp xúc trực tiếp với máu).

§ Ấn gián tiếp vào điểm cầm máu nếu vết thương có dị vật.

§ Đặt garô cầm máu nếu các phương pháp trên không hiệu quả.

§ Theo dõi băng garô.

Chú ý : phải ghi giờ đặt garô và nới garô hàng giờ.

b. Tắc thở hoàn toàn

Nạn nhân trong tình trạng tắc thở hoàn toàn do có dị vật ở đường thở. Nạn nhân còn tỉnh nhưng không thở nữa. Nếu không thực hiện sơ cấp cứu ngay thì tính mạng nạn nhân sẽ bị đe dọa. Do vậy, chúng ta phải tiến hành làm thông đường thở ngay lập tức.

Những điều cần làm :

§ Thực hiện ngay kỹ năng làm thông đường thở : Vỗ vào lưng nạn nhân và dùng thủ thuật Hemlic đứng.

c. Khó thở

Nạn nhân có dấu hiệu xấu về chức năng của phổi. Nạn nhân thở nhanh gấp, tiếng thở khò khè, môi và móng tay thâm tím, toát mồ hôi.

Những điều cần làm :

§ Đặt nạn nhân ở tư thế nghỉ nửa nằm nửa ngồi, hoặc ngồi.

d. Choáng

Nạn nhân có dấu hiệu xấu về chức năng của tim, nạn nhân xanh tái, khát nước và toát mồ hôi.

Những điều cần làm :

§ Đặt nạn nhân ở tư thế nằm kê cao chân để tăng lượng máu chảy về đầu nạn nhân.

e. Chấn thương

Các vết thương nặng

Khi nạn nhân có một vết thương nặng, mà vết thương này có thể dẫn đến chảy máu bên trong cơ thể, hoặc là khó thở hoặc là nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng và trầm trọng hơn. Do vậy, chúng ta phải đặt nạn nhân ở tư thế hồi phục và gọi cấp cứu.

Vết thương vùng ngực :

Nếu nạn nhân có vết thương nặng ở vùng ngực thì sẽ đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi hoặc ngồi để nạn nhân dễ thở.

Những điều cần làm :

§ Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi.

§ Nếu vết thương hở : Nút kín vết thương và băng lại.

Vết thương bụng hở :

Nếu nạn nhân có vết thương nặng ở vùng bụng thì sẽ đặt nạn nhân nằm ngửa, hai đầu gối co lại làm giãn cơ vùng bụng và giảm đau.

Những điều cần làm :

§ Giữ nguyên vết thương, dùng bát hoặc hộp cứng úp lên vết thương và băng lại.

§ Để nạn nhân nằm ngửa, hai đầu gối co lại, kê chân lên cao.

Vết thương sọ não hở :

Những điều cần làm :

§ Giữ nguyên vết thương, dùng bát úp lên vết thương và băng lại.

§ Kỹ năng băng bó vết thương.

Gãy xương

Nạn nhân bị chấn thương ở xương và khớp. Các thao tác không đúng sẽ làm cho nạn nhân rất đau, chấn thương sẽ phức tạp và trầm trọng hơn. Do vậy, cần phải cố định vùng bị chấn thương.

Cần phải cố định vùng nghi ngờ bị gãy xương bằng việc cố định phần khớp ở phía trên và phía dưới vùng bị thương.

Nếu nạn nhân bị chấn thương ở lưng, cổ - đầu, các thao tác không đúng có thể làm phức tạp thêm và gây hậu quả nghiêm trọng như bị liệt. Do vậy, cần phải tránh mọi cử động và hai tay giữ chặt đầu nạn nhân.

Việc di chuyển nạn nhân chỉ được tiến hành khi bắt buộc và phải giữ ổn định tối đa vùng đầu (đầu, cổ, phía trên phần lưng).

Những điều cần làm :

§ Dùng nẹp và dây buộc cố định phần trên và dưới chỗ gãy.

§ Nếu không có nẹp dùng các vật dụng thay thế hoặc dùng dây buộc tay cố định vào thân (nếu gãy tay) và buộc cố định chân gãy vào chân lành (nếu gãy chân).

§ Tổn thương cột sống phải cố định phần cổ và lưng rồi đặt lên cáng cứng.

Kỹ năng cố định gãy xương

3. Nạn nhân bất tỉnh

Nạn nhân không còn tiếp xúc được nhưng vẫn thở. Nếu đặt nạn nhân nằm ngửa, lưỡi sẽ bị tụt vào trong và dịch nôn ở trong cổ họng sẽ làm nạn nhân khó thở và dẫn đến ngừng thở. Chúng ta phải làm thông ngay đường thở và đặt nạn nhân ở tư thế nằm nghiêng an toàn.

Phụ nữ mang thai được đặt ở tư thế nằm nghiêng bên trái để cho máu lưu thông.

Những điều cần làm :

§ Đặt nạn nhân ở tư thế nằm nghiêng an toàn, nửa người bị thương sẽ ở phía dưới.

§ Đối với phụ nữ mang thai được đặt ở tư thế nằm nghiêng bên trái.

III. VẬN CHUYỂN NẠN NHÂN

Khi có sự hỗ trợ để giúp đỡ nạn nhân (cấp cứu 115 hay giúp đỡ của người qua đường, thân nhân nạn nhân), chuyển nạn nhân lên cáng sẽ được tiến hành bảo đảm an toàn cho vùng cột sống bởi 3 hay 4 người. Việc đặt nạn nhân lên cáng cho phép di chuyển nạn nhân ít bị cử động va chạm nhất ở vùng lưng.

Các kỹ năng di chuyển nạn nhân phụ thuộc vào vết thương của nạn nhân.

read more...

Phòng tránh TNGT - Quy định đối với người điều khiển, người ngồi trên xe môtô xe gắn máy

Quy định đối với người điều khiển, người ngồi trên xe môtô xe gắn máy
Trích Luật Giao thông đường bộ 2001

Điều 28. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

1. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em; trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu hoặc áp giải người phạm tội thì được chở hai người lớn.

2. Việc đội mũ bảo hiểm đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy do Chính phủ quy định.

3. Cấm người đang điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy có các hành vi sau đây:

a) Đi xe dàn hàng ngang;

b) Đi xe lạng lách, đánh võng;

c) Đi xe vào phần đường dành cho người đi bộ và phương tiện khác;

d) Sử dụng ô, điện thoại di động;

đ) Sử dụng xe để kéo, đẩy các xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh;

e) Buông cả hai tay hoặc đi xe bằng một bánh đối với xe hai bánh, bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

g) Sử dụng xe không có bộ phận giảm thanh và làm ô nhiễm môi trường;

h) Các hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông.

4. Cấm người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy có các hành vi sau đây:

a) Mang, vác vật cồng kềnh;

b) Sử dụng ô;

c) Bám, kéo hoặc đẩy các phương tiện khác;

d) Đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái;

đ) Các hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông.
read more...

Phòng tránh TNGT

read more...

Phòng tránh TNGT - Quy định đối với người đi bộ

Trích Luật Giao thông đường bộ 2001

Điều 30. Người đi bộ

1. Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường.

2. Nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thì khi qua đường người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới để qua đường an toàn, nhường đường cho các phương tiện giao thông đang đi trên đường và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

3. Nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ qua đường thì người đi bộ phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn và qua đường đúng các vị trí đó.

4. Trên đường có dải phân cách, người đi bộ không được vượt qua dải phân cách.

5. Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt.

Trích Nghị định 14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường bộ

Điều 7. Người đi bộ

Người đi bộ ngoài việc phải chấp hành các quy định tại Điều 30 của Luật Giao thông đường bộ, còn phải chấp hành các quy định sau đây :

1. Không được đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông.

2. Khi đi bộ theo đoàn thì phải có người hướng dẫn.

Trích Nghị định 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Điều 16. Xử phạt người đi bộ vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đi đúng phần đường quy định;

b) Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

2. Phạt tiền từ 20.000 đồng đến 40.000 đồng đối với hành vi không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, người kiểm soát giao thông.

3. Phạt tiền từ 40.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Mang, vác vật cồng kềnh gây cản trở giao thông;

b) Trèo qua giải phân cách; đi qua đường không bảo đảm an toàn;

c) Đu, bám vào phương tiện giao thông đang chạy.
read more...

Luật Đường thuỷ nội địa - Nghị định số 09/2005/NĐ-CP

Nghị định số 09/2005/NĐ-CP ngày 27/01/2005 của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là những hành vi của tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về giao thông đường thủy nội địa một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

a) Vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa;

b) Vi phạm quy định về phương tiện thủy nội địa;

c) Vi phạm quy định về thuyền viên, người lái phương tiện;

d) Vi phạm quy định về quy tắc giao thông và tín hiệu của phương tiện;

đ) Vi phạm quy định về hoạt động của cảng, bến thủy nội địa và vận tải đường thủy nội địa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa đều bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa trên lãnh thổ Việt Nam cũng bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.

2. Tàu biển, tàu cá khi hoạt động trên đường thủy nội địa có hành vi vi phạm quy định tại Điều 20, Điều 21, Điều 22 hoặc tàu cá có hành vi vi phạm quy định tại Điều 23 của Nghị định này thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại các điều đó; các hành vi vi phạm hành chính khác thì áp dụng hình thức, mức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, thủy sản.

3. Việc xử phạt người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 3. Nguyên tắc xử phạt

1. Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định này và phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

3. Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa khi có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này.

4. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa phải do người có thẩm quyền quy định tại Nghị định này thực hiện.

5. Một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa chỉ bị xử phạt một lần.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm; nếu hình thức xử phạt là phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung và người có thẩm quyền xử phạt chỉ ra một quyết định xử phạt.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.

6. Khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân của người vi phạm, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

7. Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự cố bất ngờ, bất khả kháng hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Điều 4. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1.Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

2. Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

3.Trong trường hợp xử phạt một người có nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây :

a) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi vi phạm hành chính đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

b) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm hành chính đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

c) Nếu các hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra hành vi vi phạm.

Điều 5. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp quản lý hành chính đối với thuyền viên, người lái phương tiện

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa được quy định tại Nghị định này, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây :

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt đối với một hành vi vi phạm hành chính cụ thể không có tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu và mức tối đa của khung tiền phạt. Nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt giảm xuống thấp hơn mức trung bình, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tăng lên cao hơn mức trung bình nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây :

a) Tước quyền sử dụng bằng, chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên, người lái phương tiện, chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép khác;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

3. Ngoài hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây :

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép;

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do hành vi vi phạm hành chính gây ra;

c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;

d) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại.

4. Thuyền viên, người lái phương tiện có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa có thể bị đánh dấu vi phạm trên bằng, chứng chỉ chuyên môn.

Việc đánh dấu vi phạm trên bằng, chứng chỉ chuyên môn là biện pháp quản lý hành chính, giáo dục, phòng ngừa vi phạm hành chính đối với thuyền viên, người lái phương tiện trong việc chấp hành quy định của pháp luật về giao thông đường thủy nội địa.

Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các cơ quan liên quan quy định cụ thể việc đánh dấu vi phạm trên bằng, chứng chỉ chuyên môn.

Điều 6. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là một năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện. Nếu quá thời hạn nêu trên thì không xử phạt nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này.

2. Trong thời hạn một năm, tổ chức, cá nhân lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

3. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt vi phạm hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án và hồ sơ vụ vi phạm.

Chương II: HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH, HÌNH THỨC VÀ MỨC XỬ PHẠT

Mục 1: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THUỘC KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

Mục 2: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ PHƯƠNG TIỆN THỦY NỘI ĐỊA

Mục 3: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THUYỀN VIÊN, NGƯỜI LÁI PHƯƠNG TIỆN

Mục 4: VI PHẠM QUY TẮC GIAO THÔNG VÀ TÍN HIỆU CỦA PHƯƠNG TIỆN

Mục 5: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CẢNG, BẾN THỦY NỘI ĐỊA VÀ VẬN TẢI ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

Chương III: THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Chương IV: KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 41. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử phạt vi phạm hành chính

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Công dân có quyền tố cáo vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa của tổ chức, cá nhân và những vi phạm của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Việc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Điều 42. Khen thưởng và xử lý vi phạm

1. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 33, 34, 35 và 36 của Nghị định này mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt vượt quá thẩm quyền thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3. Người bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa mà có hành vi ngăn cản, chống đối người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối, hối lộ để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát hoặc xử phạt vi phạm hành chính của người thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 41. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử phạt vi phạm hành chính

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Công dân có quyền tố cáo vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa của tổ chức, cá nhân và những vi phạm của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Việc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Điều 42. Khen thưởng và xử lý vi phạm

1. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 33, 34, 35 và 36 của Nghị định này mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt vượt quá thẩm quyền thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3. Người bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa mà có hành vi ngăn cản, chống đối người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối, hối lộ để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát hoặc xử phạt vi phạm hành chính của người thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 43. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo; thay thế Chương VII của Nghị định số 40/CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 77/1998/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 1998 của Chính phủ.

Điều 44. Tổ chức thực hiện

1. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định này.

2. Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc thu tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.

Điều 45. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

T/M CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

(Đã ký)

Phan Văn Khải
read more...

Luật giao thông đường thủy nội địa

Luật giao thông đường thủy nội địa
LỆNH CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC

Về việc công bố Luật

-------------------------

CHỦ TỊCH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Căn cứ vào Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;

Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạn pháp luật,

NAY CÔNG BỐ

Luật Giao thông đường thủy nội địa.

Đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004.

CHỦ TỊCH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC LƯƠNG


QUỐC HỘI

---------------

Luật số: 23/2004/QH11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------------------

LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về giao thông đường thuỷ nội địa.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động giao thông đường thủy nội địa; các điều kiện bảo đảm an toàn giao thông đường thuỷ nội địa đối với kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia giao thông, vận tải đường thuỷ nội địa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa.

Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa là hoạt động của người, phương tiện tham gia giao thông, vận tải đường thuỷ nội địa; quy hoạch phát triển, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa và quản lý nhà nước về giao thông đường thuỷ nội địa.

2. Luồng chạy tàu thuyền (sau đây gọi là luồng) là vùng nước được giới hạn bằng hệ thống báo hiệu đường thuỷ nội địa để phương tiện đi lại thông suốt, an toàn.

3. Âu tàu là công trình chuyên dùng dâng nước, hạ nước để đưa phương tiện qua nơi có mực nước chênh lệch trên đường thuỷ nội địa.

4. Đường thủy nội địa là luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua đập, thác trên sông, kênh, rạch hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thuỷ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức quản lý, khai thác giao thông vận tải.

5. Hành lang bảo vệ luồng là phần giới hạn của vùng nước hoặc dải đất dọc hai bên luồng để lắp đặt báo hiệu, bảo vệ luồng và bảo đảm an toàn giao thông.

6. Thanh thải là việc loại bỏ các vật chướng ngại trên đường thuỷ nội địa.

7. Phương tiện thuỷ nội địa (sau đây gọi là phương tiện) là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa.

8. Phương tiện thô sơ là phương tiện không có động cơ chỉ di chuyển bằng sức người hoặc sức gió, sức nước.

9. Bè là phương tiện được kết ghép lại bằng tre, nứa, gỗ hoặc các vật nổi khác để chuyển đi hoặc dùng làm phương tiện vận chuyển tạm thời trên đường thuỷ nội địa.

10. Hoán cải phương tiện là việc thay đổi tính năng, kết cấu, công dụng của phương tiện.

11. Phương tiện đi đối hướng nhau là hai phương tiện đi ngược hướng nhau mà từ phương tiện của mình nhìn thấy mũi phương tiện kia thẳng trước mũi phương tiện của mình.

12. Đoàn lai là đoàn gồm nhiều phương tiện được ghép với nhau, di chuyển nhờ phương tiện có động cơ chuyên lai kéo, lai đẩy hoặc lai áp mạn.

13. Đoàn lai hỗn hợp là đoàn lai được ghép thành đội hình có ít nhất hai trong ba phương thức lai kéo, lai đẩy, lai áp mạn.

14. Trọng tải toàn phần của phương tiện là khối lượng tính bằng tấn của hàng hoá, nhiên liệu, dầu bôi trơn, nước trong khoang két, lương thực, thực phẩm, hành khách và hành lý, thuyền viên và tư trang của họ.

15. Sức chở người của phương tiện là số lượng người tối đa được phép chở trên phương tiện, trừ thuyền viên, người lái phương tiện và trẻ em dưới một tuổi.

16. Vạch dấu mớn nước an toàn là vạch đánh dấu trên phương tiện để giới hạn phần thân phương tiện được phép chìm trong nước khi hoạt động.

17. Mạn được gió của thuyền là mạn có hướng gió thổi vào cánh buồm chính.

18. Thuyền viên là người làm việc theo chức danh quy định trên phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 15 mã lực hoặc phương tiện có sức chở trên 12 người.

19. Thuyền trưởng là chức danh của người chỉ huy cao nhất trên phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 15 mã lực hoặc phương tiện có sức chở trên 12 người.

20. Người lái phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần đến 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính đến 15 mã lực hoặc phương tiện có sức chở đến 12 người hoặc bè.

21. Hoa tiêu đường thuỷ nội địa (sau đây gọi là hoa tiêu) là người tư vấn, giúp thuyền trưởng điều khiển phương tiện hành trình an toàn.

22. Người vận tải là tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện để vận tải người, hàng hóa trên đường thuỷ nội địa.

23. Người kinh doanh vận tải là người vận tải giao kết hợp đồng vận tải hàng hoá, hành khách với người thuê vận tải để thực hiện việc vận tải hàng hoá, hành khách mà có thu cước phí vận tải.

24. Người thuê vận tải là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng vận tải hàng hoá, hành khách với người kinh doanh vận tải.

25. Người nhận hàng là tổ chức, cá nhân có tên nhận hàng ghi trên giấy vận chuyển.

26. Hành lý là vật dùng, hàng hoá của hành khách mang theo trong cùng chuyến đi, bao gồm hành lý xách tay và hành lý ký gửi.

27. Bao gửi là hàng hoá gửi theo bất kỳ phương tiện chở khách nào mà người gửi không đi cùng trên phương tiện đó.

Điều 4. Nguyên tắc hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa

1. Hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn cho người, phương tiện, tài sản và bảo vệ môi trường; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.

2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ nội địa là trách nhiệm của toàn xã hội, của chính quyền các cấp, của tổ chức, cá nhân quản lý hoặc trực tiếp tham gia giao thông; thực hiện đồng bộ các giải pháp về kỹ thuật, an toàn của phương tiện, kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa; đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho người tham gia giao thông đường thuỷ nội địa; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ nội địa theo quy định của pháp luật.

3. Phát triển giao thông đường thuỷ nội địa phải theo quy hoạch, kế hoạch và đồng bộ.

4. Quản lý hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền các cấp.

Điều 5. Chính sách phát triển giao thông đường thuỷ nội địa

1. Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa trên các tuyến giao thông đường thuỷ nội địa trọng điểm, khu vực kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa có lợi thế về giao thông đường thuỷ nội địa so với các loại hình giao thông khác.

2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành và đầu tư kinh doanh, khai thác vận tải đường thuỷ nội địa để phát triển giao thông đường thuỷ nội địa bền vững.

Điều 6. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa

1. Tổ chức liên quan đến giao thông đường thuỷ nội địa có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa cho nhân dân và cán bộ, công chức, người lao động trong phạm vi quản lý của mình.

2. Cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa thường xuyên, rộng rãi đến toàn dân.

3. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo việc giáo dục pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa trong các cơ sở giáo dục phù hợp với đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.

Điều 7. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi có tai nạn trên đường thuỷ nội địa

1. Thuyền trưởng, người lái phương tiện và người có mặt tại nơi xảy ra tai nạn giao thông đường thuỷ nội địa hoặc phát hiện người, phương tiện bị nạn trên đường thuỷ nội địa phải tìm mọi biện pháp để kịp thời cứu người, phương tiện, tài sản bị nạn; bảo vệ dấu vết, vật chứng liên quan đến tai nạn; báo cho cơ quan công an hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất và phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Cơ quan công an hoặc Uỷ ban nhân dân nơi nhận được tin báo phải cử ngay người đến nơi xảy ra tai nạn hoặc nơi phát hiện người, phương tiện bị nạn, được quyền huy động người, phương tiện để cứu vớt, cứu chữa người bị nạn, bảo vệ tài sản, phương tiện bị nạn, dấu vết, vật chứng liên quan đến tai nạn; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thông suốt; trường hợp tai nạn, sự cố gây tác hại đến môi trường thì phải báo ngay cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

3. Cơ quan công an hoặc cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền khi nhận được tin xảy ra tai nạn trên đường thuỷ nội địa phải kịp thời tiến hành điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Uỷ ban nhân dân nơi xảy ra tai nạn hoặc nơi phát hiện người bị nạn có trách nhiệm giúp đỡ người bị nạn; trường hợp tai nạn gây chết người, sau khi cơ quan điều tra có thẩm quyền đồng ý cho chôn cất mà nạn nhân không rõ tung tích, không có thân nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì tiến hành chôn cất nạn nhân theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Các hành vi bị cấm

1. Phá hoại công trình giao thông đường thuỷ nội địa; tạo vật chướng ngại gây cản trở giao thông đường thuỷ nội địa.

2. Mở cảng, bến thuỷ nội địa trái phép; đón, trả người hoặc xếp, dỡ hàng hoá không đúng nơi quy định.

3. Xây dựng trái phép nhà, lều quán hoặc các công trình khác trên đường thuỷ nội địa và phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa.

4. Đổ đất, đá, cát, sỏi hoặc chất thải khác, khai thác trái phép khoáng sản trong phạm vi luồng và hành lang bảo vệ luồng; đặt cố định ngư cụ, phương tiện khai thác, nuôi trồng thuỷ sản trên luồng.

5. Đưa phương tiện không đủ điều kiện hoạt động theo quy định tại Điều 24 của Luật này tham gia giao thông đường thuỷ nội địa; sử dụng phương tiện không đúng công dụng hoặc không đúng vùng hoạt động theo giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của cơ quan đăng kiểm.

6. Bố trí thuyền viên không đủ định biên theo quy định khi đưa phương tiện vào hoạt động; thuyền viên, người lái phương tiện làm việc trên phương tiện không có bằng, chứng chỉ chuyên môn hoặc bằng, chứng chỉ chuyên môn không phù hợp.

7. Chở hàng hoá độc hại, dễ cháy, dễ nổ, động vật lớn chung với hành khách; chở quá sức chở người của phương tiện hoặc quá vạch dấu mớn nước an toàn.

8. Làm việc trên phương tiện khi trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

9. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm; xâm phạm tính mạng, tài sản khi phương tiện bị nạn; lợi dụng việc xảy ra tai nạn làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn.

10. Vi phạm báo hiệu hạn chế tạo sóng hoặc các báo hiệu cấm khác.

11. Tổ chức đua hoặc tham gia đua trái phép phương tiện trên đường thuỷ nội địa; lạng lách gây nguy hiểm cho phương tiện khác.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ; thực hiện hoặc cho phép thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa.

13. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa.

CHƯƠNG II: QUY HOẠCH, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

CHƯƠNG III: PHƯƠNG TIỆN THỦY NỘI ĐỊA

CHƯƠNG IV: THUYỀN VIÊN VÀ NGƯỜI LÁI PHƯƠNG TIỆN

CHƯƠNG V: QUY TẮC GIAO THÔNG VÀ TÍN HIỆU CỦA PHƯƠNG TIỆN

CHƯƠNG VI: HOẠT ĐỘNG CỦA CẢNG, BẾN THỦY NỘI ĐỊA, CẢNG VỤ VÀ HOA TIÊU ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

CHƯƠNG VII: VẬN TẢI ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

CHƯƠNG VIII: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

CHƯƠNG IX: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 102. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.

Điều 103. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Văn An
read more...

Luật Đường thuỷ nội địa - Nghị định số 21/2005/NĐ-CP

Nghị định số 21/2005/NĐ-CP ngày 01/03/2005 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa
CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa về phạm vi hành lang bảo vệ luồng; điều kiện an toàn của phương tiện phải đăng ký nhưng không thuộc diện đăng kiểm; điều kiện của cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện thủy nội địa; trách nhiệm bố trí đủ chức danh, định biên thuyền viên của chủ phương tiện; điều kiện kinh doanh xếp, dỡ hàng hóa, phục vụ hành khách; phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài và điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giao thông đường thủy nội địa.

Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Phạm vi hành lang bảo vệ luồng

1. Phạm vi hành lang bảo vệ luồng quy định tại khoản 4 Điều 16 của Luật Giao thông đường thủy nội địa được xác định theo cấp kỹ thuật đường thủy nội địa và theo quy định sau đây :

a) Trường hợp luồng không sát bờ, phạm vi hành lang bảo vệ luồng tối đa không quá 25 mét, tối thiểu không dưới 10 mét kể từ mép luồng trở ra mỗi phía bờ.

b) Trường hợp luồng sát bờ, phạm vi hành lang bảo vệ luồng phía sát bờ được tính từ mép bờ tự nhiên trở vào phía bờ tối thiểu không dưới 5 mét; nếu luồng trong khu vực thành phố, thị xã, thị trấn thì phạm vi hành lang bảo vệ luồng có thể dưới 5 mét do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

c) Trường hợp phạm vi hành lang bảo vệ luồng trùng với hành lang an toàn đường bộ, đường sắt thì phạm vi hành lang bảo vệ luồng được tính từ mép luồng tới mép bờ tự nhiên.

d) Trường hợp phạm vi hành lang bảo vệ luồng trùng với hành lang an toàn cầu đường bộ, cầu đường sắt thì thực hiện theo quy định về bảo vệ hành lang an toàn cầu.

đ) Trường hợp phạm vi hành lang bảo vệ luồng trùng với phạm vi bảo vệ các công trình phòng, chống lụt, bão, bảo vệ đê thì thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng, chống lụt, bão, pháp luật về đê điều.

2. Mép bờ tự nhiên quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này là đường giao nhau giữa bãi sông và bờ sông.

Mép bờ tự nhiên do cơ quan quản lý giao thông chủ trì phối hợp với cơ quan quản lý thủy lợi cấp tỉnh xác định cụ thể căn cứ đặc điểm của từng khu vực.

3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể phạm vi hành lang bảo vệ luồng theo cấp kỹ thuật đường thủy nội địa, quy định việc cắm mốc, quy cách mốc chỉ giới và bảo vệ mốc chỉ giới trên mặt đất của phạm vi hành lang bảo vệ luồng.

Điều 4. Điều kiện an toàn của phương tiện phải đăng ký nhưng không thuộc diện đăng kiểm

1. Phương tiện phải đăng ký nhưng không thuộc diện đăng kiểm là phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 1 tấn đến dưới 5 tấn hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực hoặc có sức chở dưới 5 người.

2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện an toàn của phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này để làm căn cứ cho việc đăng ký, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của phương tiện.

Điều 5. Điều kiện của cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện thủy nội địa

Điều kiện của cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện thủy nội địa nói tại khoản 1 Điều 27 của Luật Giao thông đường thủy nội địa được quy định như sau :

1. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp; có phương án tổ chức sản xuất phù hợp với chủng loại, kích cỡ phương tiện được sản xuất.

2. Có bộ phận giám sát, quản lý chất lượng để bảo đảm sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

3. Có ít nhất một cán bộ kỹ thuật :

a) Tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành đóng tàu trở lên đối với cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện có sức chở đến 12 người, phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần đến 50 tấn, phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính đến 50 mã lực;

b) Tốt nghiệp đại học chuyên ngành đóng tàu trở lên đối với cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện có sức chở trên 12 người, phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 50 tấn, phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 50 mã lực.

4. Có phương án phòng cháy, chữa cháy và phòng ngừa ô nhiễm môi trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận.

Điều 6. Trách nhiệm bố trí đủ các chức danh, định biên và lập danh bạ thuyền viên của chủ phương tiện

1. Chủ phương tiện quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Giao thông đường thủy nội địa là một trong các đối tượng sau đây :

a) Người sở hữu phương tiện;

b) Người được người sở hữu phương tiện giao quyền quản lý, sử dụng phương tiện;

c) Người thuê phương tiện không có thuyền viên để khai thác vận tải;

d) Thuyền trưởng.

2. Khi phương tiện hoạt động trên đường thủy nội địa, chủ phương tiện phải bố trí đủ các chức danh, định biên thuyền viên và lập danh bạ thuyền viên theo quy định.

Điều 7. Điều kiện kinh doanh xếp, dỡ hàng hóa, phục vụ hành khách tại cảng, bến thủy nội địa

Điều kiện kinh doanh xếp, dỡ hàng hóa, phục vụ hành khách tại cảng, bến thủy nội địa nói tại khoản 3 Điều 69 của Luật Giao thông đường thủy nội địa được quy định như sau :

1. Tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh xếp, dỡ hàng hóa, phục vụ hành khách;

2. Cảng, bến thủy nội địa đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động.

Điều 8. Phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài

1. Phương tiện thủy nước ngoài là phương tiện thủy nội địa, tàu biển do nước ngoài cấp giấy chứng nhận đăng ký.

2. Trong việc chủ trì phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài, Cảng vụ đường thủy nội địa có trách nhiệm sau đây :

a) Chủ trì, điều hành việc phối hợp hoạt động quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa;

b) Tổ chức và chủ trì các hội nghị, cuộc họp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành khác hoặc với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp liên quan tại khu vực cảng, bến thủy nội địa để thống nhất việc giải quyết những vướng mắc phát sinh;

c) Yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành khác tại cảng, bến thủy nội địa thông báo kịp thời kết quả làm thủ tục và biện pháp giải quyết những vướng mắc phát sinh; yêu cầu doanh nghiệp khai thác cảng, bến thủy nội địa, chủ phương tiện, thuyền trưởng phương tiện thủy nước ngoài và các cơ quan, tổ chức liên quan khác cung cấp số liệu, thông tin cần thiết;

d) Kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng, bến thủy nội địa giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền có liên quan đến quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa.

3. Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành khác tại cảng, bến thủy nội địa có trách nhiệm sau đây :

a) Phối hợp chặt chẽ để giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các thủ tục liên quan đến phương tiện thủy nước ngoài, hàng hóa, hành khách và thuyền viên trên phương tiện thủy nước ngoài khi hoạt động tại cảng, bến thủy nội địa theo quy định của Nghị định này và của pháp luật có liên quan;

b) Thông báo kịp thời cho Cảng vụ đường thủy nội địa biết kết quả giải quyết thủ tục liên quan đến phương tiện thủy nước ngoài, hàng hóa, thuyền viên, hành khách trên phương tiện thủy nước ngoài khi hoạt động tại cảng, bến thủy nội địa;

c) Sau khi xử lý thông tin do Cảng vụ đường thủy nội địa hoặc chủ phương tiện thủy nước ngoài cung cấp hoặc trường hợp có vướng mắc phát sinh phải báo kịp thời cho Cảng vụ đường thủy nội địa biết để phối hợp giải quyết.

4. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và các cơ quan có thẩm quyền khác đối với phương tiện thủy nước ngoài, hàng hóa, hành khách, thuyền viên và những đối tượng khác khi hoạt động tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài thực hiện theo quy định của Nghị định này và của pháp luật có liên quan.

5. Phương tiện thủy nước ngoài khi đến và rời cảng, bến thủy nội địa thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật về hàng hải đối với tàu thuyền đến và rời cảng biển.

Điều 9. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trực thuộc thực hiện tốt việc phối hợp hoạt động quản lý nhà nước tại cảng, bến thủy nội địa có tiếp nhận phương tiện thủy nước ngoài.

2. Kiểm tra, thanh tra hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trực thuộc và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa

1. Điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa nói tại khoản 2 Điều 77 của Luật Giao thông đường thủy nội địa được quy định như sau :

a) Tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh vận tải đường thủy nội địa;

b) Phương tiện có đầy đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa;

c) Thuyền viên, người lái phương tiện phải có bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp với chức danh đảm nhiệm, đúng độ tuổi theo quy định.

2. Ngoài điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải hành khách còn phải đáp ứng điều kiện sau đây :

Đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông vận tải đường thủy nội địa phương án tổ chức chạy tàu và biểu đồ chạy tàu theo tuyến cố định (đối với hình thức vận tải theo tuyến cố định) hoặc khu vực hoạt động (đối với hình thức vận tải không theo tuyến cố định).

3. Đối với vận tải hành khách ngang sông, ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì bến đón, trả hành khách phải đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn và được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động.

Điều 11. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo; thay thế Nghị định số 91/2001/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2001 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh một số ngành, nghề giao thông vận tải đường thủy nội địa.

Điều 12. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

T/M CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

(Đã ký)

Phan Văn Khải
read more...